tết trong năm không bằng rằm tháng riêng
Rằm tháng giêng này sẽ vào ngày 09 / 02 / 2009
Theo nguyên văn Bách khoa toàn thư Wikipedia
“Tết Nguyên Tiêu hay tết Thượng Nguyên là một tết, lễ hội cổ truyền, Việt Nam vào ngày 15 (ngày rằm) tháng giêng Âm lịch.
Tết này phần lớn tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Vào ngày này, cũng có gia đình Việt Nam tụ tập ở nhà trưởng họ hoặc nhà thờ họ.
Theo sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là một ngày lễ Phật. Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ.”

ảnh minh hoạ
Việc đi lễ đầu năm, và nhất là rằm tháng giêng gần như một nếp văn hoá cộng đồng. Đâu đâu cũng rộn ràng cho lễ không khác gì chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán, một vài nơi còn tổ chức như hội, còn gọi là Hội rằm tháng giêng.
Dân ta có câu “ Cúng cả năm không bằng rằm tháng giêng”, đây là dịp để mọi người đi lễ chùa chiền, đền đài, miếu mạo nhằm phúng điếu các thần linh và khấn cầu. Kẻ thì xin lộc, kẻ thì cầu tài, kẻ xin gia đạo bình an, người xin thăng quan tiến chức; chưa chồng thì cầu được tấm chồng, học hành thì cầu hiển danh đỗ đạt, muộn con cái thì cầu tự, kiết xác thì cầu vinh hoa phú quý, buôn lậu thì cầu các quan mờ mắt, phạm pháp, tham ô thì cầu pháp luật lơ là.v.v.
Ngoài Bắc có Đền B à Chúa Kho và Đền Trần, đây là hai nơi mà mọi người nườm nượp đổ về trong ngày rằm tháng giêng này để hành hương và bái vọng. Giớidoanh nhân thì đi Đền Bà Chúa Kho- ở Bắc Ninh- để dâng hương, vàng bạc rồi vay mượn của Bà, xin lộc của Bà về để làm ăn cho tấn tới; giới quan chức thì trẩy về lễ Khai ấn của Đền Trần ở TP Nam Định để ghi danh, dâng lễ và nhận Triện của Vua Trần cầu mong được thăng quan tiến chức.
Trong Nam thì nổi nhất là Đền Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc – An Giang; đây là nơi mà giới doanh nhân đất Sài Thành và các vùng lân cận truyền tụng nhau “ ai thiếu vốn hay cụt vốn làm ăn thì biện lễ đến đây dâng lên Bà cầu xin để mượn vốn của Bà về mà làm ăn thì cầm chắc là phát đạt, nhưng khi khẩn cầu hẹn bao giờ trả thì phải y hẹn mà tới trả cho Bà cả gốc lẫn lãi, còn như mà ăn ra làm nên rồi mà thất hẹn thì lụn bại ngay”. Ở Bình Dương thì có đền Bà Thiên Hậu, nơi đây cũng nổi tiếng hiển linh, khách thập phương đến cầu khẩn ở đây mấy năm trước đến từ ngày 12-13 tháng giêng để xếp hàng chờ đợi xin lộc.

ảnh minh hoạ


ảnh minh hoạ
Phía Bắc thì có Đền Bà Chúa Liễu Hạnh - nằm ngay ở đèo Ngang – Q.trạch –Q.Bình, là một địa danh hay cho các giới trẩy hội trong rằm tháng giêng này; rồi Chùa Quan Âm tự ở xã Đức Trạch - Bố Trạch, Chùa Non trên núi Thần Đinh ở Trường Xuân - Quảng Ninh.
Ngoài ra, rằm tháng giêng này cũng là lễ hội rằm lớn tại Thôn Pháp Kệ - Xã Quảng Phương - Quảng Trạch. Hội rằm tháng giêng ở đây có nét văn hoá truyền thống, ngày này con cháu khắp nơi tụ về bên tổ tông họ hàng để cùng chuẩn bị lễ cúng các Thần đầu năm. Thường là cúng thổ thần nơi cả làng cư ngụ, cúng Thành Hoàng làng, cầu cho mưa thuận gió hoà, cầu cho một năm mùa màng bội thu, cầu cho con trẻ học hành hiển đạt, người đi ra thì bình an vô sự...Làng Pháp Kệ chia ra bốn xóm ở bốn hướng, xóm Bắc, xóm Đoài, xóm Đông và xóm Nam, mỗi xóm đều có một khu vực riêng để làm lễ hàng năm nhưng thường là ở ngay đình làng, giếng làng hoặc rú cát. Nhà nào ở xóm nào thì biện lễ của nhà mình bưng ra cùng cúng với làng xóm, lễ thì tuỳ gia cảnh mà biện nhưng cũng cau, trầu, rượu, hương, rồi oản rồi mía, bỏng ngô... nhà nào có nữa thì gà, xôi, thịt luộc, chè, cháo. Nhưng không có cũng thôi vì các vật phẩm này đã góp tiền cho xóm biện lễ chung trên bàn thờ xóm rồi. Lễ cúng là các cụ các bà khăn đóng, áo dài đi trước rồi mới đến con cháu đi sau cùng rước lễ, rồi kèn rồi chiêng trống, rồi vái, rồi khấn đủ các bộ lễ bài bản. Sau lễ cúng là đến lễ “cướp” của trẻ con; chúng nó chực sẵn ngoài chiếu như mèo, rình sẵn trên các cành cây có chìa nhánh ra phía có chiếu cúng như báo, nghe lệnh của trưởng làng “ Lễ tất” là chúng nó nhào vô, bay xuống tranh cướp đủ thứ. Người lớn thì đứng nhìn và cổ vũ cho chúng – hình như đây cũng là một tục thì phải- đứa nào cũng nhem nhuốc thức ăn khắp cả người, đồ lễ lúc này lộn tùng phèo với đất cát, với trẻ con của xóm (và cũng có cả của xóm khác cúng xong trước nữa).
Xong phần Lễ thì đến phần Hội, hội vật, hội võ, hội đánh đu... đây là hội truyền thống từ ngày xưa cha ông để lại. Trai tráng, thanh thiếu niên thi nhau các môn vật, võ; mở đầu là những bậc cao niên với những ngón roi, đường quyền cổ truyền, sau đó mới đến các con cháu. Lễ và Hội ở đây kéo dài cho đến đêm, vì sau lễ sau hội là những mâm cỗ được bày ra để đãi đằng, để hưởng lộc Thánh, và cũng để người ta chúc tụng nhau lần nữa rồi kết thúc và tạm biệt những ngày tết ấm cúng vui vẻ, trở về với công cuộc mưu sinh và chờ đợi Xuân sau.
ảnh minh hoạ
Xem thêm:
LỄ QUANH NĂM
KHÔNG BẰNG RẰM THÁNG GIÊNG ?
1- Đặt Vấn Đề :
Tôi cũng chưa tìm được lời giải thích của Tiền Nhân về nguồn gốc câu : "Lễ quanh năm không bằng Rằm Tháng Giêng ?".
Sau Tết Nguyên Đán liên tiếp có nhiều nghi lễ phong tục lọng trọng liên hoàn đã được cử hành suốt từ Tết Ông Táo / Công , Giao Thừa , Xông nhà , Chúc Tết, Hoá Vàng ...
Vậy tại sao vẫn lưu truyền trong dân gian câu nói trên ?
2- Vị trí của Lễ Rằm Tháng Giêng trong tâm thức người Việt ?
Lễ Rằm tháng Giêng còn được gọi là Lễ Thượng Nguyên hoặc Nguyên Tiêu. Các công trình kiến trúc cổ còn viết tháng Giêng là Mạnh Xuân (cách tính các tháng xưa như Mạnh- Trọng -Quý, trong đó ví dụ mạnh xuân là tháng giêng, mạnh hạ là tháng 4, mạnh thu là tháng 7, mạnh đông là tháng 10).
Theo nhà nghiên cứu Hán Nôm Vũ Văn Kính trong Đại Từ Điển chữ Nôm trang 1132 thì Rằm chữ Nôm có thể viết bằng nhiều cách khác nhau , ví dụ như : lâm ; lâm + ngũ ; nguyệt + lâm ; vọng + ngũ ; nam + lâm . Còn phổ biến trong các từ điển Nôm cổ khác thấy viết chữ Rằm gồm chữ ngũ (5- trên) + lâm (rừng - dưới) .
Còn chữ Nôm viết chữ Giêng bằng chữ Chính hoặc Nguyệt + Chính hoặc Chính + Trinh Theo Từ điển chữ Nôm của Viên Nghiên cứu Hán Nôm , Hà Nội 2006, trang 427 định nghĩa Giêng là tháng đầu năm theo âm lịch. (chữ Nôm viết Trinh hoặc Nguyệt + Chính) .
Đây là cái lễ Vọng (Rằm) đầu tiên của năm , nó rất quan trọng trong tầm thức người Việt . Qua tra cứu sách thì chúng tôi thấy có mấy cách giải thích về Lễ Rằm tháng Giêng :
- Những gia đình khá giả lại ăn Tết nữa . Họ lại gói bánh chưng , và hoa đầo nở muộn lại ra hoa , nên lại chơi hoa đào .
- Những người đi làm ăn xa , cố cúng xong Rằm tháng Giêng mới lại đi xa kiếm ăn .
- Cũng là ăn Tết muộn cho những người thân đi làm ăn xa do tính chất công việc , do " kẹt " tàu ,kẹt xe về quê muộn.
- Cũng là Tết của những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết , sau Tết đã khoẻ mạnh trở lại . Hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán , được ăn tết " bù " .
- Theo PGS Lê Trung Vũ Rằm là ngày Phật giáng lâm tại các chùa , nên Phạt tử đua nhau đi lễ chùa vào dịp rằm tháng giêng và đó là ngày vía Thiên quan theo các nhà thuật số (cúng sao , dâng sao giải hạn giải trừ tai ách trong năm) .
Như vậy lễ rằm tháng Giêng " đụng chạm " đến đông đảo nhân dân lao động Việt nam . Đó là ngày đoàn tụ ' muộn" của nhiều người con đi làm ăn xa nhà không về kịp vào đúng giao thừa rất thiêg liêng ?
3- Lễ Rằm tháng Giêng đã có từ lâu đời:
Theo sử liệu thì từ thời nhà Trần về trước tổ tiên chúng ta đã có tục lễ rằm tháng Giêng . Lê Tắc trong cuốn An nam chí lược , Huế ,2002, trang 71 có viết : " Đêm nguyên tiêu (rằm tháng giêng ) trồng những cây đèn ở giữa sân rộng gọi là đèn Quảng Chiếu , thắp đến mấy chục vạn ngọn (đúng là chữ vạn NVH) , sáng rực cả trên trời dưới đất , thày tu đi quanh tụng kinh Phật , các quan liêu lễ bái , goi là " chầu đèn ".
Tục lễ Rằm Tháng Giêng vẫn được duy trì đến nay (có đứt đoạn thời chiến tranh) , nhất là làng quê Việt nam , các cụ Bà thường lập hội , góp quỹ hội , luân phiên dâng lễ ở chùa vào ngày Sóc , Vọng , trong đó có Rằm tháng Giêng .
Bao trùm lên ý nguyện khi làm lễ là "Cầu cho Quốc Thái dân An".
Ngày xưa thì :
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu , trồng khoai trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
....Nay nhịp sống quay cuồng " theo quỹ đaọ đồng tiền " - kinh tế thị trường , nên tín ngưỡng dân gian cũng đã " biến thái " đi .
Do cuộc sống càng cạnh tranh ác nghiệt, nhu cầu tâm linh càng mãnh liệt vào ngày Tết , nhiều người ngay giao thừa không chỉ lễ Chùa gần nhà mà đã đi lễ Chùa xa nhà . Nay đường quốc lộ nâng cấp , nhiều gia đình có xe riêng , Taxi công cộng lại chạy suốt dịp Tết . Nên dòng người đi Lễ chùa rất đông. Hội Chùa Hương (Hà Tây) mồng 6 tháng Giêng đã khai hội sớm so với truyền thống xưa.
Hoạt động tín ngưỡng cũng đã " chiều theo nhu cầu " Phật Tử ".
Ví dụ tại chùa P.K. ở gần Ngã Tư Sở Hà Nội cũng đã cúng Rằm Tháng Giêng lệch ngày . Lich cúng của chùa P.K được in phát hành rộng rãi cho Phật Tử là :
. 8 tháng Giêng : 9 giờ sáng khai lễ Thượng Nguyên (đúng ra là vào Rằm tháng Giêng ); và 19 giờ khoá lễ sao La Hầu (dâng sao 50 nghìn đồng VN , giải hạn 70 nghìn đồng VN Phật Tử nộp cho nhà chùa) .
.14 tháng Giêng 19 giờ Đại lễ cầu an cả năm cho mọi gia đình (hơn 10 năm nay tôi quan sát đoạn đường ở trước cổng chùa này thường bị tắc nghẽn vì Phật tử tràn ngập ra đường dự Lễ này)
.15 tháng giêng 19 giờ khoá lế sao Thái Bạch
.18 tháng Giêng khoá lễ sao Kế Đô
. 20 tháng Giêng lễ Bán khoán-bố mẹ làm giấy bán con (khó nuôi do ốm yếu /ngỗ nghịch) cho nhà chùa .
Tóm lại Lễ Rằm tháng Giêng cái lễ Rằm đầu tiên trong năm , nên trong tâm linh người Việt rất quan trọng . Nó là dịp để mọi người cầu khấn những khát vọng thầm kín nhất của mình đến đấng " Thần Phật ".
Đây là phong tục tốt đẹp hướng thiện- hướng thượng cần giữ gìn mãi mãi cho muôn đời sau, dù nhịp sống công nghiệp ngày càng vô cùng hối hả - khốc liệt !
http://newvietart.com
Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tết nhất vui vẻ nhân ngấm một chút men rượu, một bạn hiền trong bàn cao hứng "sửa một tí" mấy câu ca dao quen thuộc mà đọc thầm: "Tháng giêng là tháng ăn chơi. Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè. Tháng tư lẳng lặng mà nghe. Cái nghèo nó đến bên hè chói chang". Đọc xong lại cùng nhàn đàm tại chỗ về câu thứ nhất, tạm viết ra đây.
Đối với không ít người, tháng giêng không phải là tháng "ăn chơi" mà là tháng..." "ăn làm"! Họ vừa ăn Tết, vừa làm việc, nhiều trường hợp căng thẳng hơn cả ngày thường. Đấy là những người tham gia hoạt động trong "nền công nghiệp phục vụ Tết". Hãy lấy ví dụ mấy ngày qua, những người đứng chân trong khu vực thương mại, bán hàng ở các siêu thị, các chợ đầu mối, chợ bán sỉ bán lẻ, cửa hàng thực phẩm rau quả có "rút chân" ra khỏi vị trí của mình để đi "ăn chơi" không? Chắc là chẳng thể. Vì nhu cầu xã hội và cung cách làm ăn đua tranh thời mới không cho phép những nhà quản lý ngưng "làm" để "chơi". Họ phải điều hành nhân viên có mặt thường trực trên thị trường. Mồng 3 Tết năm nay các siêu thị của hệ thống Coop Mart bán cả chục tấn gà tươi nguyên con mỗi ngày cho khách tiêu dùng ở Sài Gòn.
Thế đó, khi bộ máy của "nền công nghiệp Tết" vận hành theo nhịp thở gấp gáp của đời sống đô thị hiện đại thì nó không thể điềm nhiên dừng lại ở "múi giờ" giao thừa để "ăn chơi" suốt tháng giêng. Mà như ta thấy, ngay hai ngày đầu năm mới, Vissan mở hàng sát sinh "hóa kiếp" cho hơn 500 chú lợn và bò để đưa thịt chúng ra thị trường "tươi sống". Những cửa tiệm tạp hóa quanh năm bày bán cả trăm cả nghìn mặt hàng, đến mùng một, mùng hai nhiều chủ tiệm không muốn chờ ngày tốt để mở cửa bán tân niên, mà cứ thế theo đà "năm cũ rủ năm mới" nối liền một mạch đón khách ngay sáng sớm đầu năm. Mồng 3 mồng 4 tết, nhiều công ty như Bibica (Bánh kẹo Biên Hòa) hoặc Fahasa (Phát hành sách TP.HCM) đã sớm hoạt động.
Bây giờ thử nhìn sang khu vực giải trí. Tuần đầu năm cả triệu lượt khách tìm đến các tụ điểm vui xuân, các công viên văn hóa như Đầm Sen, Suối Tiên, các nơi mở hội hoa xuân, bày cây cảnh như Tao Đàn, đường Nguyễn Huệ - TP.HCM, các điểm biểu diễn văn nghệ, rạp hát, rạp chiếu bóng, đại khái những chỗ nào đáp ứng nhu cầu vui chơi ba ngày Tết của dân. Ở những nơi đó, cả một guồng máy những người thường trực đảm đương nhiều phần việc khác nhau nhằm phục vụ cho kịp. Có chỗ khởi động công việc từ "trong tết", ra "ngoài tết", sang cho tới "mồng 11, mồng 12", mãi đến rằm tháng giêng chưa chắc đã dứt.
Vì rằm tháng giêng lại sẽ bùng lên một loạt dịch vụ liên quan đến Tết Thượng nguyên của người Việt ta cũng là Tết Nguyên tiêu của người Hoa. Nào hương đèn, áo giấy, bánh trái, xe cộ, xăng dầu, đồ ăn uống... Có người tiêu thụ ắt phải có kẻ buôn bán. Nghĩa là có người vẫn "đi làm" chứ chẳng "ngồi chơi". Ai chơi thì chơi, chứ không có người "làm" lấy gì để "chơi". Như ai nấy đều biết qua hệ thống thông tin đầu năm, thì Tết này có ngót 3 vạn bà con Việt kiều về quê ăn Tết, và 140.000 khách nhập cảnh qua sân bay Tân Sơn Nhất, một số trong đó sẽ du lịch đó đây, lên Đà Lạt, ra Nha Trang, về Long Xuyên, Hà Tiên, viếng Hội An, Đà Nẵng, cư ngụ tại các khách sạn, đi lại qua các bến, ga, phố chợ... Cộng với số lượng người du lịch và khách vãng lai trong nước, nhu cầu sinh hoạt của tất cả họ đòi hỏi số người làm việc đầu tháng giêng không thể vắng mặt. Sau Tết Bính Tuất, cùng với đồng nghiệp, vừa dắt xe ra đường trong đầu tôi chợt lóe lên câu ca dao đã nhàn đàm với bạn: "Tháng giêng là tháng ăn chơi". Ừ, muốn ăn thì ăn, muốn chơi thì chơi, nhưng đâu chỉ "ăn chơi" suông, mà quanh ta đã bắt đầu khởi động nhịp quay nhanh của sinh hoạt đời mới. Rốt lại câu ca "tháng giêng ăn chơi" vẫn còn nguyên giá trị tinh thần gọi ta liên tưởng tới các phong thái làm việc điềm đạm từ tốn ngày xuân, cũng phản ảnh phần nào sinh hoạt của một xã hội nông nghiệp xưa. Ngày nay nhịp sống công nghiệp ở đô thị cho thấy tháng giêng là tháng "ăn làm" và "làm ăn" của nhiều giới. Và trước hết đối với giới công chức, cán bộ công nhân viên Nhà nước thì không thể "ăn chơi" theo cái nghĩa đen sì sì như câu ấy. Song theo nghĩa "thăng hoa" ta vẫn thấy lòng mát dịu khi đọc lại mấy câu ca cũ. Bởi nghe như có một ngọn gió đồng xa xôi, từ quê nhà thổi đến, vĩnh viễn làm rung những cánh chuồn chuồn hoặc những vòm hoa ớt rực đỏ trong kỷ niệm ngày kia...
Hông Hạc
Theo_Thanh_Nien)
"Hoá vàng" cúng tiễn tổ tiên
Cứ chiều mùng 3 Tết, gia đình bà Phạm Thị Nguyên (Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội) lại quây quần làm cơm cúng tiễn ông vải. Sau khi đốt vàng mã, bà Nguyên cẩn thận đổ một chén rượu cúng vào đống tro để đồ không bị thất lạc ở "thế giới bên kia". Gia đình nhà sử học Dương Trung Quốc cũng chọn mùng 3 làm lễ hoá vàng. Theo ông, tục "hoá vàng" dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới bên kia sống gần với dương gian. Lễ hoá vàng, người ta thường đốt các loại vàng mã như giấy vàng, giấy bạc, vàng thoi tiền... cùng quần áo, giày dép, nhà cửa, xe..., thậm chí có người còn gửi người hầu, tỳ thiếp. Sau khi đốt, người ta thưởng đổ một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để đồ cúng được chuyển đến đúng người nhận. Một số nhà còn hơ các cây mía trên ngọn lửa hóa vàng để người dưới âm có gậy chống. Cũng có một số gia đình Hà Nội không chọn cúng hoá vàng vào ngày mùng 3 vì cho rằng ngày xấu hoặc chạm phải ngày tuổi chủ nhà. Và họ thường cúng muộn sau một, hai ngày. Trên các con đường của thành phố, đặc biệt khu vực quận 5, những người chủ gia đình mang vàng hương ra trước cửa nhà để đốt. Đây là những thứ đã được họ "sắm" từ cuối năm trước và đưa từ bàn thờ cúng tổ tiên xuống. Theo chị Sinh, một người dân trên đường An Dương Vương (quận 5), nói: "Tùy theo tuổi của người chủ gia đình mà chọn ngày hóa vàng. Ví như năm nay, những người có tuổi ngọ, mão, tý thì không nên làm vào ngày mồng 3 vì đây là những tuổi xung với năm. Theo quan niệm dân gian, lễ hóa vàng diễn ra càng sớm thì những người ở "cõi" khác sớm trở lại cuộc sống của họ", chị Sinh nói. Việc đốt tiền, vàng mã đã thờ cúng được coi là chuẩn bị hành trang cho những người ở cõi âm. Và để tiễn đưa những người đã khuất, các gia đình cũng thường tập trung họ hàng, con cháu dùng cơm. Các loại trái cây trên bàn thờ cũng được đem ra phát cho mọi người. Nhiều gia đình ở TP HCM còn chọn ngày mồng 3 Tết để mở quán bán hàng. Theo họ, việc kinh doanh chỉ là để lấy cái may và sự vui vẻ đầu năm chứ chưa đặt nặng việc tính toán lỗ lãi. Giá cả năm trước như thế nào thì vẫn áp dụng y như thế. Chị chủ quán chuyên bán món ăn Huế trên đường Cách Mạng Tháng 8 (quận 3) cho biết: "Sáng nay, sau khi "hóa vàng", tôi kết hợp mở hàng luôn để lấy may đầu năm. Thực tế thì may mắn lắm vì vừa bán hàng đã đông khách". Đoàn Loan - Tuấn Dũng(Theo_VnExpress.net)
Bà Nguyên quan niệm đơn giản, lễ tết là ngày vui của con cháu thì ông bà dưới âm cũng phải được hưởng. "Hoá vàng" là lễ mà con cháu gửi đồ dùng, tiền vàng đã chuẩn bị trên bàn thờ gia tiên trong dịp Tết cho người cõi âm. "Năm nay, không chỉ có con cháu trong nhà, tôi còn mời thông gia, hàng xóm, bạn bè thân thiết tới ăn hoá vàng. Bởi đây là dịp đoàn tụ gia đình, gặp mặt nhau những ngày đầu xuân", bà Nguyên nói.
Tại TP HCM, theo quan niệm của người dân, lễ hoá vàng tiễn đưa những người thân đã khuất trở về "thế giới" của họ sau khi đã "về ăn" Tết với gia đình, còn đánh dấu sự khởi đầu của một năm làm việc, buôn bán suôn sẻ. 
Ngay sau khi hóa vàng nhiều cửa hàng đã mở cửa đón khách.
Ý nghĩa của việc thắp nhang (dâng hương)
1. Khói hương trong tâm linh người Việt
Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân Á châu bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến. Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng. Dù không mê tín dị đoan, trong tâm thức mọi người Á Châu đều tin rằng nén hương khi đốt lên, cũng như một nhịp cầu vô hình nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình với nhau. Tuy nhiên về mặt tâm linh, có người vẫn còn hiểu một cách mơ hồ, nhất là về ý nghĩa dâng hương theo truyền thống của ông bà. Thậm chí ngày nay có người còn không biết vì sao trong nhà mình có một bàn thờ với những pho tượng, hình ảnh Chư Phật Bồ Tát, thần thánh hoặc tổ tiên. Phải chăng có một “ông” Phật sống ở trên bàn thờ ?
2. Định Nghĩa Dâng hương là gì?
Dâng có nghĩa là đưa lên một cách cung kính, tiếng Anh gọi là “offering”. Và từ hương có nghĩa là mùi thơm, thông thường là một vật dùng đốt lên để cúng các đấng thiêng liêng, cũng được gọi là nhang và trầm, tiếng Anh là “incense”. Từ incense bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin, và động từ incendere - có nghĩa là thắp cháy lên.
3. Sự đặc biệt của nén hương đối với quê hương Việt Nam
Chuyện thắp hương trên bàn thờ tổ tiên là một nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp giỗ chạp, lễ Tết. Ngày cuối năm đi mua sắm các thứ chuẩn bị cho Tết, không ai không mua vài nén hương về thắp cho ông bà, tổ tiên mình. Nén hương được thắp lên thì mọi người cảm thấy ấm lòng. Nén hương lúc này không còn là thứ hàng bình thường, mà nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của người dân Việt. Cùng với những phong tục truyền thống khác, nén hương đã góp phần tạo nên và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Mùi hương là mùi thơm quen thuộc trong nhà hằng triệu triệu người Á châu - là mùi thơm đặc biệt của ngày đầu năm đi chùa lễ Phật. Chúng ta luôn bắt gặp những hình ảnh rất quen thuộc: những cụ ông, cụ bà, nam thanh, nữ tú, tay cầm hương khấn vái cầu mong một năm mới an khang, thịnh vượng, phúc lộc thọ khang ninh... Đây hoàn toàn không phải là hành động mê tín dị đoan, mà là một nét đẹp văn hóa được tồn tại từ rất lâu
4. Lược sử về hình thức đốt nhang
Theo lịch sử ghi lại, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC (cách đây khoảng 5700 năm), từ nước Ấn Độ. Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một vị Tăng đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ biến đến khắp các nước láng giềng. Có thể nói hình thức đốt hương phổ biến nhất ở Nhật Bổn, tại đây họ lại chế thêm nhiều cách đốt hương; sản phẩm quen thuộc nhất là nén trầm hình tròn đầu nhọn vào thế kỷ 17, ngày nay vẫn còn dùng. Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ khai. Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều những hình vẻ hoặc hình chạm trên tường mô tả nghi thức này.
Ngày nay việc đốt nhang đã trở thành một tập quán trong các ngày lễ hội như Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan, Vía Quán Thế Âm, ngày Tết hái lộc đầu năm, Phật đản, và những ngày quan trọng trong gia đình như cúng giỗ, đám tang, đám cưới, ăn tân gia… dùng để cúng những vị như Phật Bà Quán Âm, Đức Mẹ Mary, Ông Bà, Tam Tiên Ông: Phúc Lộc Thọ, Thổ Địa, Táo Quân, Thần Tài…
5. Lợi ích và tác dụng của nén hương
Từ ngàn xưa, khi mới khám phá ra lửa, con người đã bắt đầu phát hiện ra một điều lạ lùng, đó là khi ngọn lửa cháy lên sẽ tỏa ra mùi thơm đặc biệt tùy theo vật liệu dùng để đốt. Người ta đã biết dùng hương đèn để trị bệnh cho thân thể và cả bệnh tâm lý. Khi đốt hương đèn, khói hương nghi ngút tạo nên không khí thanh tịnh, ấm áp và trang nghiêm hoặc tạo không khí trong sạch trong những căn phòng lạnh lẻo của người qua đời hoặc lâm trọng bệnh.
Thông thường, người ta thắp nhang là để khẩn thiết cúi đầu mong tấm lòng thành kính của mình sẽ quyện theo làn khói thơm hướng về cõi thiêng liêng hoặc xông lên tận ngai vàng của Đức Chúa Trời hoặc một đấng nào khác. Do vậy trong kinh Phật mới có bài kệ:
Nguyện đem lòng thành kính, Gởi theo đám mây hương.
Phảng phất khắp mười phương. Cúng dường ngôi Tam Bảo […]
6. Khi thắp nhang nên thắp mấy nén?
Người Việt Nam đã quen chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) lúc thắp nhang, nhưng cũng có trường hợp người ta đốt cả nắm nhang chứ không chú trọng vào ý nghĩa con số. Còn theo lý giải của nhà Phật cho rằng, số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng hơn.
Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau: đó có thể là
Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng),
Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới),
Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Vị lai),
Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)
Nén hương, cũng có thêm một ý nghĩa đặc biệt khác nữa, đó là thắp nhang để nhớ đến sự vô thường. Vô thường là từ Hán-Việt, tức là không vĩnh viễn - tất cả đều giả tạm, cho nên lúc nén hương tắt cháy thì cũng tượng trưng cho đời người tắt chắy, ngắn ngủi vô thường như thời gian của nén hương.. tàn tro của hương nhắc nhở chúng ta chớ để thời gian trôi qua, uổng phí tháng ngày.
7. Ý Nghĩa Dâng Hương trong nhà Phật và các tôn giáo khác
Trong nghi lễ Phật giáo, hương là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Hương, Hoa , Đăng , Trà , Quả , Thực (Nhang, Bông, Đèn, Trà, Trái, Thức ăn). Tuy nhiên nhiều người không rõ về ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật nên bày biện đủ thức ăn uống như yến tiệc, thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa. Không lẽ Phật sẽ lên trên bàn thờ mà ăn từng trái táo, uống từng chung trà sao?
Theo quan niệm của Phật giáo, lòng thành thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiếc tiệc thịt cá, heo quay linh đình… vì đúng ý nghĩa sự Cúng Phật thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong là đủ. Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của tất cả con người. Ngoài những nén hương dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, chúng ta còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén Tâm hương- tức là hương từ trong tâm. Bởi vậy mới có năm thứ hương dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương.
Không chỉ Phật giáo, mà cả các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo cũng dùng hương trong các ngày lễ của mình. Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cửu của người đã mất... Trước thời Chúa Giê-su (Jesus), những hương liệu như loại trầm frankincense có giá trị hơn cả vàng bạc châu báu. Đó là vì cổ nhân tin rằng những loài cỏ cây thơm là do chư Thiên ban cho từ trên cao và đã thấm nhuần hương thơm của Đức Chúa Trời.
Có tài liệu ghi rằng, khi Chúa Giê-su giáng sinh, có ba vị vua đem ba thứ châu báu quý nhất trong nước thời đó để dâng lên cho ngài - đó là 1. Vàng, 2. Hương Trầm và 3. Dầu thơm đặc biệt từ rễ cây Myrrh. Điều này chứng tỏ hương trầm từ xa xưa vốn đã được xem như một vật quý giá thiêng liêng. Khói hương hòa vào không khí khiến cho không gian vạn vật xung quanh đều được thơm ngát, ví như tâm hành “Tùy thuận chúng sinh” của các bậc Bồ tát Đại nhân vậy. Những tôn giáo khác như Ấn Độ giáo (Hinduism) thì lại dùng hương để thư giản và tập trung hơi thở lúc ngồi Thiền. Trong khi đó, dạo Phù Thủy (Wiccanism) dùng hương để
trở về với sức sống thiên nhiên để cảm thông với các vị nữ thần như Aphrodite. Trái lại, theo đạo Khổng (Confucianism) thì khói hương tượng trưng cho Đại Trượng Phu - chỉ bay lên chứ không bao giờ lặn xuống.
Hương không có màu sắc nhưng luôn thơm ngát, như câu “Tự tại trong hành xứ, như chim giữa hư không, tìm dấu chân không thấy”. Như mùi hương vô sắc phảng phất thơm lừng, bậc tĩnh lặng sống tự tại giữa đời, đem lại an lạc và lợi ích cho đời nhưng không lưu lại một dấu tích danh sắc nào trên bia ký. Rời khỏi cuộc đời, có chăng chỉ là một khoảng không gian ngát hương: mùi hương của loại hương bay ngược chiều gió!
Ở nhiều vùng thuộc Nam Bộ, người ta còn thắp hương cho từng gốc cây, góc nhà với quan niệm mọi vật đều có đời sống tâm linh của nó, cũng như là để thần thánh, hoặc vong/ hương linh hút vàp sức lực để hiển linh.
Một điều chúng ta phải cần ghi nhớ là mỗi lần dâng hương trước bàn thờ: không những dâng hương bằng tấm lòng thành kính của mình, mà còn phải có chánh niệm, tiếng Anh gọi concentration (sự tập trung). Nên cắm từng nén hương với hai tay và cắm cho ngay thẳng, tượng trưng cho tấm lòng ngay thẳng, mặc cho bão táp phong ba không hền dời đổi, giữ nguyên phong cách của ngừời quân tử tấm lòng trong sạch để lưu lại tiếng thơm với đời tỏa khắp nơi.
sưu tầm
Phong tục ngày Tết: Lễ chùa, đình, đền
Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc cầu may, xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và cho gia đình. Và nhân dịp này người ta thường xin quẻ đầu năm.
Khi đi lễ, người ta kén giờ và kén hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp sự may mắn quanh năm. Ngày nay, người ta đi lễ nhưng ít người kén giờ và kén hướng.
Hái lộc
Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong, lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của trời đất phật thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá sum suê, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc.
Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô. Với tin tưởng lộc hái về trong Ðêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người Việt Nam trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn.
Về tục xuất hành cũng như tục hái lộc, có nhiều người không đi trong Ðêm giao thừa, mà họ kén ngày tốt giờ tố trong mấy ngày đầu năm và đi đúng theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm để có thể có được một năm hoàn toàn may mắn.
Hương lộc
Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình đền chùa miếu bằng các đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ công ở nhà.
Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa tự các nơi thờ tự mang về, tức là xin phật thánh phù hộ cho được phát đạt tốt lộc quanh năm. Trong lúc mang nắm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nắm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm. Thường những người làm ăn buôn bán hay xin hương lộc tại các nơi thờ tự.
Trích Tín ngưỡng Việt Nam
Đầu năm đi chùa cầu may
Trong tiết trời xuân, hàng nghìn người dân ở Hà Nội và TP HCM, từ các cụ già đến em nhỏ nô nức tay cầm những cành vàng lá ngọc, tim sen, hương lộc, cây phát tài... đổ về chùa cầu an dịp đầu xuân.
Sáng sớm mùng 1 Tết năm nay ở Hà Nội có mưa xuân, nhiệt độ xuống dưới 10 độ C. Trời rét buốt khiến nhiều người ngại ra đường. Phải đến 11h trưa, thời tiết ấm dần, dòng người đổ về các chùa như Phúc Khánh, Quán Sứ, Quán Thánh, Trấn Quốc...
Tại chùa Phúc Khánh, trong ngôi điện thờ Phật tổ, dòng người ken nhau đi từng bước. Khói hương nghi ngút ngày xuân khiến nhiều người cay xè mắt. Những tờ tiền mới được nhiều người dắt lên cây quất nhỏ đặt giữa gian nhà chùa.
![]() |
| Gần trưa, chùa Quán Sứ đông nghẹt người vào cầu may đầu năm. Ảnh: Tuấn Anh. |
Nhiều người cho rằng chùa Phúc Khánh khá thiêng và nổi tiếng nên ngay từ ngày mùng 1 Tết, nhiều xe biển ngoại tỉnh cũng đổ về đây để thắp hương cầu may. Sau những lời cầu khấn cho một năm mới làm ăn sung túc, nhiều người đến ban thờ Đức ông để rút quẻ đầu năm.
Hồ hởi cầm trên tay lá phiếu của cô con gái, bà Lý suy luận, con bà năm nay sẽ làm ăn tốt và sinh thêm một quý tử. Nói rồi, bà cùng cô con gái vội vàng đến những ngôi chùa khác ở Hà Nội.
Tại chùa Quán Sứ, thông tin hòa thượng Thích Thanh Tứ, trụ trì chùa, năm nay mệt không tiếp khách khiến nhiều người không biết vẫn cố nán lại trong nhiều giờ. Theo ghi nhận của VnExpress.net, khu vực ghi công đức tại ngôi chùa này khá tấp nập. Nhiều người cho rằng, những ngày Tết cần và nên làm những việc tích đức cho con cháu.
![]() |
| Nằm ven hồ Tây, chùa Trấn Quốc khá lạnh nhưng dòng người vẫn nô nức kéo đến thắp hương. Ảnh: Tuấn Anh. |
Quá giờ trưa, khu vực giữa sân, dòng người vẫn nô nức kéo nhau đến thắp hương lấy may đầu năm mới. Khu vực đốt vàng mã đông nghẹt người. "Cô nghe thấy nhiều người bảo năm nay mùng 1 Tết là ngày đẹp nên gia đình quyết định đi mặc dù trời rất lạnh", vừa nói cô Cúc vừa ném mớ tiền âm phủ vào đống lửa đang cháy nghi ngút.
Dù thời tiết lạnh, nhưng năm nay nhiều gia đình vẫn quyết đưa trẻ nhỏ vào các ngôi chùa có tiếng ở Hà Nội. Gần 13h ngày mùng 1 Tết, dọc hai bên đường Thanh Niên, xe ôtô đỗ kín. Nhiều gia đình không có xe đã bắt taxi đi cầu may.
Nằm bên ven hồ Tây, gió thổi vào chùa Trấn Quốc thêm lạnh hơn. Tuy nhiên, đến đây ai cũng hồ hởi và nở những nụ cười đón ngày mới trong năm. Ngay ngày đầu năm mới dịch vụ trông giữ xe cũng được mùa "hốt bạc": 10.000 đồng mỗi xe máy, ôtô có giá 20.000-30.000 đồng.
Tại TP HCM, những ngôi chùa lớn cổ kính ngày đầu năm cũng náo nhiệt hơn, như chính cuộc sống nhộn nhịp của một thành phố lớn.
Những ngôi chùa lớn như Giác Lâm, Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Ngọc Hoàng, chùa Huyền Trang... vẫn là nơi được nhiều người dân viếng thăm nhất, với mong muốn sự linh thiêng ở đây mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn.
![]() |
| Chen nhau cầu khấn trong màn khói hư ảo. Ảnh: Hải Duyên. |
Tại chùa Vĩnh Nghiêm, hàng nghìn người già trẻ gái trai đã đến thắp hương rút quẻ để cầu sang năm mới sẽ có nhiều điều tốt đẹp đến với mình. Người già thì cầu sức khỏe, người trẻ cầu duyên, cầu tiền bạc, ai ai cũng tay cầm những nén hương lẩm nhẩm khấn bốn hướng. Những ngọn đèn treo xung quanh chùa, quện vào làn khói dày đặc của hương làm cho không gian trở nên hư ảo càng làm tăng thêm sự linh thiêng huyền bí nơi cửa Phật.
Đi chùa hái lộc đầu năm cầu mong cho gia đình người thân có nhiều sức khỏe, tài lộc đầy nhà, an khang thịnh vượng, tình duyên đẹp đôi... đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống trong đời sống tâm linh của người Việt.
Tuấn Anh - Hải Duyên vnexpress
Mồng một tết cha…
“Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Đối với thời nay, câu nói ấy thật vừa cổ, vừa kim. Nó cổ, vì nó là câu tục ngữ đã xa xưa lắm; và nó kim vì nó đang cần cho xã hội ngày nay khi người ta đang cố tìm một phương thuốc chữa căn bệnh “bạc tình” trong các gia đình và ngoài xã hội.
“Tết” ở đây nên được hiểu là những công việc mà con cái và học trò dành cho cha mẹ và thầy đồ trong dịp đầu năm mới để tỏ lòng hiếu kính và biết ơn. Những công việc đó, thông thường gồm có: mừng tuổi, chúc Tết, tặng quà…
“Mừng tuổi” là chúc mừng sự tăng thêm tuổi thọ. Vì cha mẹ còn sống thì con cái còn được nhờ, trái lại là điều bất hạnh: “Mẹ già như chuối chín cây/Gió đưa mẹ rụng còn rày mồ côi”, “Còn cha gót đỏ như son/Một mai cha chết, gót con đen sì” (Ca dao)… Thầy học và lớp người tiền bối còn mạnh khỏe, thì đó là những cây đại thụ, những cây cao bóng cả che bóng mát cho đàn hậu thế quây quần.
Con cái luôn có bổn phận phụng dưỡng cha mẹ già. Quà tặng cha mẹ nhân ngày Tết (kèm theo lời chúc tụng, ly rượu mừng Xuân) là phong bao lì xì cho các cụ mừng, vì tâm lý người già cũng hồn nhiên, như người ta vẫn nói: “Già trẻ bằng nhau”.
Con cái phải biết rằng không có quà tặng nào làm cho các cụ mừng bằng sự đoàn viên, sum họp gia đình trong ba ngày Tết. Ba ngày Tết mà con cái ở một nơi, cha mẹ một nơi, chỉ làm cho các cụ buồn, thương tủi sự cô đơn của mình. Chỉ trừ thời chiến tranh, con ở chiến trường xa, mẹ ở quê nhà, mẹ lấy buồn làm vui mà chờ đợi ngày thắng trận con về.
Hồi xưa, thầy đồ không ăn lương của quan trên cấp mà cũng không nhận học phí từ phụ huynh học sinh (PHHS). Quanh năm, áo vạt hò guốc mộc, cơm canh trà rượu của thầy đồ, một mình bà đồ “chân nam đá chân chiêu” lo lấy. Nay Tết đến, học trò góp phần lo cùng bà đồ. Học trò, ai có món gì mang đi biếu thầy đồ món đó, gọi là “đi Tết thầy”.
Đi Tết thầy, thường thì cân nếp, gói trà, chai rượu… Lớp học của thầy đồ chừng dăm bảy đứa học trò mặt mày khôi ngô tuấn tú ở trong làng, cho nên lễ vật “đi Tết” cũng không lấy đâu cho nhiều. Tết của thầy đồ vẫn là Tết đạm bạc. Điều mà thầy đồ mừng nhất là được nhìn thấy học trò thêm khôn lớn, học với thầy mở mang trí tuệ, được nghe học trò thưa với thầy lời hứa “nấu sử sôi kinh” nhân đầu năm mới.
Trong ba ngày Tết, ngày mồng một dành cho cha, mồng hai dành cho mẹ, vì theo quan niệm xưa, cha sinh mẹ dưỡng, cả hai đều là “đức Cù lao”, mà cha là chủ gia đình, mẹ là người nội trợ, nội tướng. Mồng ba dành cho thầy, vì cha mẹ vẫn khuyên con: “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy/Gắng công học tập cho tày người ta/Học thời như gấm thêu hoa/Mai sau hiển đạt ấy là con ngoan” (Ca dao).
Tổ tiên “lên lịch” dành 3 ngày trọng đại nhất trong năm cho cha mẹ và thầy là có ý răn dạy ta rằng đạo lớn nhất là đạo hiếu thảo, đừng có thói vô ơn, bạc nghĩa đối với các bậc sinh thành, dưỡng dục và đào tạo giáo dục ta; không có công ơn ấy không ai sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn, dạy ta thành người tài ba, người hữu ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Nay nhìn vào xung quanh ta, nhiều cụ ông, cụ bà sống sức tàn, hơi tận trong cảnh neo đơn, vì con cái đi làm ăn xa, lập gia đình riêng, bận việc kiếm sống hoặc bận việc làm giàu, không còn thời gian đâu nghĩ tưởng nhiều đến cha mẹ. Thậm chí có đứa không có lòng hiếu thảo! Ngày nay trong nhà trường, có ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11) để PHHS và học sinh đi chúc mừng thầy - cô giáo (nhiều PHHS chúc mừng rất kỹ và cũng tặng quà rất kỹ các thầy - cô).
Nhưng đó vẫn là hình thức, chưa kể những trường hợp tiêu cực, nó không vui, không ấn tượng bằng hình thức “đi Tết thầy” của hồi xưa. Hồi xưa, cắp sách đến trường làng, rồi trường tổng, trường huyện, học sinh chúng tôi đối với thầy bao giờ cũng giữ thái độ “kính nhi viễn chi” (kính mà không dám gần), tìm thấy ở thầy bao điều mô phạm, “khuôn vàng thước ngọc” cho mình noi theo...
Theo HUỲNH KIM BỬU - Báo Bình Định
Về câu thành ngữ mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy
Năm hết tết đến, nhiều người Việt nhớ câu thành ngữ "Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy". Câu thành ngữ phản ánh một nếp sống đẹp của người Việt ở thời điểm tống cựu nghênh tân. Nếp sống ấy đã thành quen thuộc, thành cha truyền con nối nên có thể có người không nhớ câu này, song họ vẫn sống theo lời dặn dò của cổ nhân trong câu thành ngữ.
Tục xưa, con cái trưởng thành ở riêng hoặc đi làm ăn xa chẳng hạn về quê trong dịp Tết Nguyên đán, sáng ngày mồng một vợ chồng con cái anh em ruột thịt về nhà cha chúc thọ cha mẹ và ông bà bên nội. Theo thông lệ, người con cả, người anh cả, người cháu đích tôn vào trước, sau đó đến hàng em út vào sau, lần lượt nói lời chúc tụng ông bà, cha, mẹ sức khoẻ và những điều tốt lành. Ông bà cha mẹ bên nội chúc tết con cháu kèm theo những đồng tiền mới bọc trong giấy hồng điều goị là cho lộc con cháu để con cháu lấy may.
Sang ngày mồng hai Tết, vợ chồng con cái ở riêng hoặc đi làm ăn xa nay có dịp về quê ăn Tết nhớ sang nhà ông bà cha mẹ bên ngoại. Nghi thức chung cũng tương tự như bên nội. Con cháu chúc tụng ông bà cha mẹ và ông bà cha mẹ mừng tuổi con cháu bằng những đồng tiền mới bọc trong giấy hồng điều tượng trưng.
Sau những nghi thức vừa trang trọng vừa đầm ấm thân tình như thế, ông bà cha mẹ con cháu thường tổ chức ăn cỗ Tết đông vui. Nghi thức chúc Tết và ăn ngày đầu xuân bao giờ cũng để lại ấn tượng sâu đậm cho mọi người, đặc biệt là tuổi thơ về hạnh phúc gia đình đầm ấm, có trên có dưới, đầy đủ, viên mãn. Nếp sống đẹp ngày Tết thể hiện sự tri ân của con cháu với ông bà cha mẹ hai bên nội ngoại - cái gốc sinh thành và giáo dưỡng mình nên người.
Sang ngày mồng ba, người Việt thường dành riêng đi lễ Tết thầy giáo. Không chỉ có các học trò học chữ đến với thầy dạy chữ mà thầy được người Việt mở rộng nghĩa là những bậc có công dạy chữ lẫn dạy nghề, dạy cả những bộ môn nghệ thuật như dạy đàn, dạy hát... Người Việt có một câu thành ngữ chân phương, nôm na nói về vai trò người thầy là Không thầy đố mày làm nên. Công dưỡng dục thuộc về cha mẹ nhưng công lao dạy dỗ thành người hiểu biết, thành người có nghề nghiệp để sau này sinh sống và định vị cuộc đời mình trước nhân quần xã hội là người thầy. Với tinh thần tôn sư trọng đạo, người Việt quan niệm Nhất tự vi sư, bán tự vi sư nghĩa là dạy một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy - để tỏ lòng tri ân người có công khai tâm cho con người bằng trí thức, bằng chữ. Ngày xưa cho dù làm quan đến tể tướng thì ngày Tết người học trò đến thăm thầy cũng vẫn một lòng tôn sư trọng đạo như thế. Thường thì ngày mồng ba Tết, người đứng đầu hàng môn sinh - những người cùng học, không phân biệt tuổi tác, chức vị, vị trí xã hội, thường tụ họp ở gia đình thầy giáo, chúc Tết thầy. Người cao tuổi nhất hoặc người được các bạn đồng môn tín nhiệm nhất thay mặt mọi người đứng lên trịnh trọng thưa với thầy về sự có mặt của học trò lớp mình và chúc thầy trường thọ cùng những điều tốt lành.
Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy. Thực ra câu thành ngữ đã rút gọn của câu nói bình thường dài lời hơn: mồng một đến chúc tết cha, mồng hai đến chúc tết mẹ, mồng ba đến chúc tết thầy. Phong tục chúc tết ấy bắt nguồn sâu xa từ tinh thần trọng đạo nghĩa: "Uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo".
(Theo ST)
Tục Kiêng Trong Ngày Mồng Một Tết
Theo quan niệm của người Việt, ngày mồng một tết là ngày đầu tiên trong năm. Ngày hôm ấy, nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp thì cả năm sẽ trôi chảy, thuận lợi. Bởi vậy, vào ngày mồng một tết, người ta chỉ chúc nhau những điều hay. Cũng với những lời chúc tụng, người Việt có tục kiêng làm một số việc như sau:
Kiêng quét nhà. Nếu quét thì vun rác vào góc nhà. Sang sáng mồng hai mới hốt đổ đi vì sợ Thần Của theo rác ra đi, không phù trợ cho gia đình nữa.
Kiêng cho lửa, xin lửa vì lửa tượng trưng cho “vận đỏ”, “may mắn ”. Cho lửa là cho đi sự may mắn.
Kiêng làm bể chén đĩa, bình trà vì sợ sự đổ vỡ.
Kiêng chửi mắng đánh đập con cái để mong cả năm yên ổn, thuận hoà.
Kiêng đòi nợ, vay nợ vì nếu phải trả nợ vào ngày mồng một thì sẽ mất mát, thua thiệt quanh năm.
Kiêng nói những câu “mất”, “chết” để khỏi diễn ra sự mất mát, chết chóc trong cả năm.
Kiêng để đèn thắp trên bàn thờ hết dầu vì như vậy có nghĩa là cuộc đời sẽ tàn lụi.
Kiêng cho mượn đồ vật dụng vì đấy là hình thức “trao của ”, hệt như việc trả nợ.
Kiêng ngồi giữa cửa vì sợ cản trở sự trôi chảy, trót lọt của gia đình.
Người gia đình có tang không được đến chúc tết người khác vào ngày mồng một, vì sợ đem sự rủi ro tới cho gia chủ và giảm lòng hiếu thảo với người đã khuất.
Kiêng đi vào giờ xấu. Giờ “xuất hành” phải là giờ hoàng đạo và khi đi phải chọn hướng tốt mà đi.
Thi sĩ làm Thơ về mùa Xuân
Thi sĩ làm Thơ về mùa Xuân, về Tết nhiều nhất là Nguyễn Bính.
Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng chưa vương chút bụi trần
Xuân tới hoa mai, hoa mận nở
Gái xuân rũ lụa bến sông Vân.
Tình xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không ?
…..
Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Xuân đã sang đò, nhớ cố nhân
Mà kẻ về bên sông cách trở
Có về Chiêm quốc như Huyền Trân.
Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân…
Năm 1940 Nguyễn Bính rời Hà nội, vào Sài Gòn, lưu lạc xuống Hà tiên, Rạch giá. Trong những năm 1943, 1944 ở miền Nam thi sĩ làm những lời thơ tha hương thương nhớ để đời:
Xuân tha hương
Gửi chị Trúc
Tết này chưa chắc Em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Ôi Chị một Em. Em một Chị
Trời làm chia cách mấy con sông!
Em đi dang dở đời mưa gió
Chị ở vuông tròn phận lãnh cung.
Chén rượu tha hương ! Trời ! Đắng lắm !
Trăm hờn, nghìn giận suốt mùa đông.
Chiều qua ngồi ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng.
xxx
Tết này chưa chắc Em về được
Em gửi về đây một tấm lòng.
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son, vẫn má hồng ?
Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông.
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa pháo hồng.
Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ một thêm đông.
Thiên hạ đua nhau maw sắm Tết
Một mình Em vẫn cứ tay không.
Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi cho Em một cánh hồng.
Tha hương không gập người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng.
xxx
Tết này chưa chắc Em về được
Em gửi về đây một tấm lòng.
Chao ơi..! Tết đến mà không được
Trông thấy quê hương..! Thật não nùng…!
Tôi đọc Thơ Nguyễn Bính năm tôi mười một, mười hai tuổi. Cơm cha, áo mẹ, thế giới chỉ mới có nhà mình và trường học, đọc Thơ Nguyễn Bính tôi đã cảm khái, bài “Hành phương Nam” của Thi sĩ là bài thơ tha hương thứ nhất tôi được đọc:
Hành phương Nam
Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà Ta với Ngươi buồn lắm thay.
Lòng đắng xá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn, mà không say !
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may.
Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trí thân vào nợ nước mây.
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gập nhau trong phút giây
Nợ tình chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.
Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này.
Nguời ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy…
Banh ChungSáu mươi tám năm xưa — 1940 – Thi sĩ Nguyễn Bính lưu lạc vào xứ Nam kỳ thấy quê nhà xa lắc, xa lơ, ngoảnh lại chỉ thấy mây trắng bay. Năm 1977, gần bốn mươi năm sau, Thi sĩ Thanh Nam sống ở thành phố Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ, xa cách quê hương cả một biển đông. Ở Seattle, Thanh Nam không biết quê hương mình ở phương hướng nào, nhớ quê hương anh nhìn bốn phía, anh không thấy cả mây trắng bay…
Năm xưa Quang Dũng đêm heo may ở bên này bờ sông Đáy, bên kia sông là đất Tề — tức vùng bị địch chiếm — thương nhớ người yêu:
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện Em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mưa.
Xa quá rồi Em, người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau.
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có rạt rào ?
“Bên này đất nước” của Quang Dũng 1948 là một bên sông — bờ sông bên này– và “bên kia đất nước” là bờ sông bên kia. Hai bờ xa cách nhau không đến hai ngàn thước. Ở bên bờ sông Đáy những đêm tối trời nhìn về phía Hà Nội, Thi sĩ có thể thấy ánh đèn điện mờ mờ sáng nơi chân trời. Thanh Nam ở Seattle nhìn về bất cứ hướng trời nào cũng thấy tối đen.
Những ngày sống ở Thành Hồ tôi đã được đọc Thơ Thanh Nam làm ở Hoa Kỳ. Mỗi lần vài câu, bánh xe lãng tử đến Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn tôi mới được đọc toàn tập Thơ “Đất Khách” của Thanh Nam:
Đất khách năm tàn vẫn gió mưa
Ngồi bên ly rượu đón giao thừa
Nhìn qua khung cửa mờ hơi nước
Chợt nhớ mưa phùn đất Bắc xưa.
Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thưở nào…
Xuan 1972Năm 1942 Nguyễn Bính ở Nam kỳ lục tỉnh, dù có là Cà mâu, Rạch giá đi nữa thì Cà mâu, Rạch giá cũng vẫn là đất Việt nam, vẫn non sông liền một giải. Tại Thi sĩ không muốn trở về, Thi sĩ về không có gì khó khăn: chỉ cần một trăm đồng bạc Đông dương và cái vé xe lửa. Bây giờ, những năm 2000, việc những Việt kiều Yêu Nước Ngoài về thăm quê hương cờ đỏ là chuyện thường năm, thường tháng và luôn cả thường ngày, nhiều người bỏ Hoa Kỳ trở về sống luôn trong nước. Năm 1977 những người Việt chạy ra khỏi nước được trước Ngày 30 Tháng Tư thấy mình và đất nước ngàn trùng xa cách, xa cách ngàn trùng cả với những người thân mình bỏ lại, mình sẽ không bao giờ có thể trở về quê hương. Tâm trạng buồn tha hương Thanh Nam 1977 còn nặng thêm vì cái nhục bại trận, nhục bỏ chạy, nhục sống nhờ, thê thảm hơn vì ý nghĩ không bao giờ còn được trở lại đất nước, không bao giờ nữa gập lại những người thân thương…
Thơ Xuân Đất Khách
Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thưở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi dạt từ Đông sang cõi Bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lả đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi, bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.
Ới hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sư tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư.
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa.
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ.
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Tập làm con trẻ nói ngu ngơ.
Vùì sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu.
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua.
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa.
Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta…
*****
Những ngày gần Tết ở Rừng Phong khi viết bài Xuân cho những tờ báo Tết , tôi đi một đường cảm khái, tôi làm thơ :
Năm năm cứ đến Ngày gần Tết
Lại viết bài Xuân đăng báo Xuân.
Chẳng thấy Xuân đâu, chưa thấy Tết
Đã dục bài Xuân, rộn báo Xuân!
Mấy chục mùa Xuân, mấy chục Tết
Năm Mèo Xuân, Năm Chó cũng Xuân.
Tết Rồng Rồng Lộn, Rồng Leo Tết,
Xuân Lợn lòng thiu, mắm thối Xuân.
Tha hương cóc có Ba Ngày Tết
Mít Đặc hè nhau Tết với Xuân.
Hoài niệm quê hương thời có Tết
Ngậm ngùi tưởng nhớ viết thương Xuân!
Xuân sang chẳng lẽ làm lơ Tết
Đời chẳng còn Xuân vẫn phải Xuân.
Thôi thì gắng viết dăm bài Tết
Cho Tình Nhân đọc chuyện Tình Xuân.
Năm Sửu, Tháng Giêng, Mồng Một Tết
Còn nguyên vẹn cả một Mùa Xuân.
Em ơi…Chín vạn Bông Trời Tết
Xuân đẹp Tình Ta nở Nụ Xuân.
Tết Trâu, Xuân đến, Em dzui Tết
Coi chừng Trâu rượt… tụt lưng quần..!
Theo kinh nghiệm Sống và Viết của tôi — cái này là kinh nghiệm, không phải là mê tín, dị đoan — những gì ta viết trong những ngày cuối năm, đầu năm — nhất là những bài Thơ gọi là Thơ Khai Bút — tối kỵ những giọng điệu, âm thanh buồn thương, ảo não. Thơ Khai Bút mà buồn sầu là người làm thơ có nhiều khả năng bị vỡ mặt trong năm đó. Xuân đến mang theo Hy Vọng, Xuân đến với lời hứa hẹn Hạnh phúc. Những bài đăng báo Xuân, báo Tết cần phải vui, phải làm cho bạn đọc cười vui. Ta chửi Việt Cộng suốt mười hai tháng, trọn năm tròn, ta chửi Việt Cộng suốt đời ta. Xuân đến, Tết đến, ta tạm quên bọn Việt Cộng ác ôn côn đồ trong vài ngày Tết để nói với nhau những lời yêu thương..
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi.
… Hay tuyệt cú mèo nhưng sầu thảm, não nùng quá đỗi. Để kỷ niệm và thăng hoa Tình Yêu của đôi ta anh đổi là
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời khép
Riêng có Tình Ta nở đẹp thôi.
Tết Sửu, em dzui xuân, Trâu nó hiền lành, nó phục vụ em nhưng em đừng coi thường nó:
Năm Trâu, Tết đến, Em dzui Tết
Coi chừng Trâu rượt… tụt lưng quần.
theo http://hoanghaithuy.wordpress.com
Cảm xúc đêm giao thừa
Khi những nụ hoa đào chớm nở và vườn quất nặng trĩu qủa cũng là lúc báo hiệu một mùa xuân tới. Xuân về, trăm hoa khoe sắc, cảnh vật, con người dường như cũng hoà vào sức xuân, tất cả đều bừng lên một sức sống mãnh liệt. Và thời khắc giao thừa – tiễn một năm cũ, đón chào một năm mới bao giờ cũng đem lại cho mỗi người những cảm xúc thật khó tả.
Với người Việt Nam, từ già tới trẻ, dù đi làm ăn xa mấy cũng cố gắng về sum họp với gia đình mấy ngày Tết. Và đêm giao thừa là một trong những giờ phút quan trọng mà mỗi thành viên trong gia đình mong chờ. Cũng chính bởi lý do đó, trước giao thừa, mọi người thường chuẩn bị đón Tết rất kỹ để có được một cái Tết thật vui vẻ và đầm ấm.
Khoảng 20 tháng chạp, các gia đình đã đi xem đào, quất, nhà nào cũng rất cẩn thận để chọn cho được một cây đào, một cây quất thật đẹp, có nhiều lộc hay một bình hoa thuỷ tiên mang về nhà chơi mấy ngày Tết. Điều quan trọng nhất đối với mỗi gia đình là phải có một mâm cỗ cúng đêm giao thừa thật đầy đủ để tỏ lòng thành kính với ông bà, tổ tiên. Và bánh chưng là một thứ không thể thiếu trong mâm cỗ cúng.
Bởi thế ngay từ 23 tháng Chạp, nhiều nhà đã chuẩn bị mua lá dong, lạt về gói bánh chưng. Và tới khoảng 25, 26 Tết bắt đầu tiến hành gói bánh. Cảm xúc được cùng cả nhà chuẩn bị gói bánh chưng đối với mỗi người cũng thật khác nhau, có người nhớ cảm giác khi còn nhỏ được tự gói riêng cho mình một cái bánh chưng bé, có người lại nhớ cảm giác được cùng cả nhà quây quần bên nồi bánh, chờ tới khi bánh chín, vớt ra, nhìn những chiếc bánh vuông vức với màu xanh mướt của lá thật thú vị …
Có nhà ngoài nấu bánh chưng, vẫn quen nếp xưa: mua thịt lợn về gói giò. Và trong mâm cỗ cúng trời đất ngoài gà (nhà ai không cúng gà thì thay bằng chân giò lợn), rượu, bánh chưng, xôi gấc, còn có gạo, muối. Trên bàn thờ tổ tiên thường có mâm ngũ quả. Chiều 30 Tết cả nhà thường quây quần bên nhau ăn bữa cơm tất niên. Đây là một phong tục tốt đẹp từ xưa đến nay của người Việt.
Các thành viên trong nhà, dù đi làm xa cũng cố gắng có mặt trong bữa cơm tất niên bởi đây là thời gian mọi thành viên trong gia đình được quây quần bên nhau, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong một năm. Cũng bởi thế mà có người đã từng chia sẻ cảm xúc về bữa cơm tất niên như thế này: “Tết đến, được trở về ngôi nhà thân yêu, cùng ăn bữa cơm chiều 30 với cả nhà, tôi cảm thấy sung sướng vô bờ... sung sướng nào hơn được sống giữa tình thương yêu, đùm bọc của những người mà mình hằng yêu quí”.
Quả thực người Việt Nam trọng tình, trọng nghĩa nên khoảnh khắc trước và sau giao thừa đối với mỗi người thật quan trọng và khó quên. Bữa cơm tất niên còn là thời gian tất cả mỗi thành viên trong gia đình ngồi ôn lại những gì đã và chưa làm được trong một năm. Những điều tốt sẽ được tiếp tục phát huy, còn những điều chưa tốt sẽ đựợc khắc phục trong năm tới.
Tới khoảng 10 giờ tối, mâm cỗ cúng bắt đầu được sửa soạn để đúng đến thời khắc 12 giờ đêm, thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, một thành viên trong gia đình, thường là đàn ông – người trụ cột của gia đình sẽ thắp hương cúng tổ tiên, trời đất cầu xin ông bà tổ tiên phù hộ cho cả gia đình một năm mới đầy may mắn và hạnh phúc, con cái trong nhà học hành giỏi giang, nghe lời ông bà cha mẹ. Chờ cho tới khi hết hương cũng là lúc những giây phút đầu tiên của năm mới tới, cả nhà cùng nâng chén rượu, dù có ai không uống được rượu nhưng cũng cố gắng nhấp môi để cùng chúc các thành viên trong gia đình một năm mới tràng đầy hạnh phúc và may mắn.
Một nét đẹp nữa của người Việt sau thời khắc giao thừa là cả nhà cùng quây quần bên nhau để nghe lời chúc Tết của Chủ tịch nước.
Thông thường nhà nào có ba thế hệ cùng chung sống thì con cháu thường chúc ông bà sống lâu trăm tuổi. Ông bà, cha mẹ lì xì cho các con, các cháu, mong các con hay ăn chống lớn và sống có ích cho xã hội. Thời xưa, trẻ con thường được lì xì bằng tiền màu đỏ cho may mắn. Thời nay, người lớn thường để tiền lì xì cho trẻ con vào những phong bao màu đỏ in nhiều hình rất ngộ nghĩnh.
Người Việt có thói quen lên chùa xin lộc, cầu may sau những khoảnh khắc đầu tiên của năm mới. Những cành lộc khi đêm về thường được cho vào lọ cắm để trên bàn thờ, mong cho mọi may mắn sẽ tới với gia đình trong một năm. Bên cạnh đó mọi người còn có tục lệ xin chữ của ông đồ về treo trong nhà, thường mọi người thường hay xin chữ: Phúc , Lộc , Thọ… mong cho may mắn sẽ tới với gia đình trong năm mới.
Những người hàng xóm thường qua nhà nhau chúc Tết ngay sau giao thừa, mọi người cùng chúc nhau đón một năm mới với tất cả sự may mắn và hạnh phúc. Xưa, khi Tết đến nhà nhà được đốt pháo, giây phút giao thừa được mọi người cảm nhận qua tiếng pháo nổ đì đùng, thời nay giây phút giao thừa được mọi người cảm nhận qua những chùm pháo hoa sáng trên bầu trời với đủ màu sắc. Với những người ngoại quốc, được đón Tết ở Việt Nam là cả một niềm hạnh phúc và thú vị, đặc biệt hơn khi họ đón giao thừa, được cảm nhận hương vị ấm cúng của Tết Việt.
Bởi không phải ở đâu giây phút chuyển giao giữa năm cũ và năm mới lại được đón nhận trong không khí ấm áp và nồng nhiệt như ở Việt Nam. Có những người ngoại quốc dù chỉ đón giao thừa một lần ở Việt Nam thì cảm xúc đêm giao thừa dường như vẫn còn nguyên vẹn trong họ: đầm ấm và hạnh phúc khó tả.
Dù là ai, làm gì, ở đâu, vào khoảnh khắc giao thừa, mọi người cũng mong được có mặt ở nhà để được cùng nâng chén rượu chúc sức khoẻ ông bà, cha mẹ, được nhận từ ông bà cha mẹ tiền lì xì đầu năm cùng lời chúc mừng năm mới – một năm tràng đầy hạnh phúc và gặp nhiều may mắn.
Theo Hải Anh (Haritage)
Danh mục bài viết
- Bí kíp học English (19)
- ebook (6)
- Giới thiệu blogger Việt (2)
- Khoa học (8)
- Lịch sử (7)
- Liên hệ (1)
- Liên kết logo (1)
- Nghệ thuật sống (5)
- Người đẹp tuyển chọn (28)
- Phần mềm hay nhất (11)
- Phong tục và văn hoá Việt Nam (31)
- Quà tặng từ Hoa Quả Sơn (1)
- Quân sự chính trị (31)
- Sức khỏe và đời sống - quý ông cần biết (53)
- Thế giới ảnh (35)
- Thông tin công nghệ (20)
- Thủ thuật Blogger (16)
- Thủ thuật máy tính (14)
- Tin tức nóng hổi (10)
- Tình yêu và lối sống (18)
- Tôn giáo tín ngưỡng (2)
- Truyện và ảnh vui (11)
- video clip vui (1)








































